Nhịp Sống Lễ Ba Vua

* Soren Kierkegaard, trong "Only a Rumor" viết rằng dẫu cho những đại giáo trưởng và luật sĩ đã có thể biết đích xác ngày giờ và nơi chốn Con Thiên Chúa giáng lâm, họ đã không buồn theo bước ba đạo sĩ phương Đông. Có thể chúng ta cũng thế! Lắm khi chúng ta thông suốt ngọn nguồn điều răn giáo lý, thuộc nằm lòng từng chữ từng kinh nhưng vẫn không buồn lê buớc có lẽ vì đôi chân đã chĩu nặng những phấn bụi đường đời!

Thật là một nghịch lý khôn cùng, Kierkegaard chua chát nhận xét. Ba Vua chỉ mới nghe đồn thôi mà họ đã vội vã ra đi, còn những nhà thông thái kia vẫn không một mảy may biến động. Và ai sẽ tìm đuợc chân lý? Những người khách lạ từ phuơng Đông xa xôi kia? Hay những người địa phương ung dung tự mãn với một chút kiến thức nhỏ nhoi hạn hẹp nơi mình? Và từ những hạn hẹp nhỏ nhoi kia đưa đến một cuộc thảm sát dã man thương tâm nhất trong lịch sử con người.

* Trong cuốn tiểu thuyết "Nhà thờ lớn" của Hugh Walpole, Archdeacon Brandon đã kết hôn được hai mươi năm với người vợ đáng yêu, nhạy cảm. Tuy nhiên, anh vẫn đánh giá cao nàng. Anh không bao giờ hỏi xem nàng cảm thấy thế nào, nàng nghĩ gì hoặc mong muốn gì từ cuộc đời. Archdeacon Brandon là người thuyết giảng về tình yêu và sự nhạy cảm đối với người khác, nhưng lại không thực hành điều đó, đặc biệt đối với người thân yêu nhất là vợ anh.

Tôi đáng yêu và nhạy cảm, đặc biệt đối với người thân yêu nhất của tôi thế nào? Tôi biểu lộ cụ thể điều này ra sao, chẳng hạn một món quà, một lá thư, một cánh thiệp, một cú điện thoại?
Không gì vang vọng hơn một hộp thư rỗng. (Charles M.Schulz)
* Thomas Huxley, một nhà sinh vật học người Anh nổi tiếng, hỏi một người đàn ông: "Chúa Giêsu có ý nghĩa gì đối với anh?." Người đàn ông do dự rồi nói: "Ông là người có học thức cao và ông có thể tranh cãi bất cứ điều gì mà tôi nói ra." Nhưng Huxley trấn an rằng ông không đi đến tranh cãi. Sau khi nghe người đàn ông giải thích Chúa Giêsu có ý nghĩa gì đối với anh, Huxley nói: "Tôi ủng hộ niềm tin của anh vào Chúa Giêsu."
Câu chuyện trên đây cho thấy điều này: không ai có thể tin vào Chúa Giêsu thay cho chúng ta. Chính chúng ta "phải đến mà xem."
Niềm tin cũng như tình yêu, nó không thể bị ép buộc. (Arthur Schopenhauer)
*Chúa Giêsu là nẻo đường cho người lạc lối.
Là tấm bánh cho tâm hồn đói khổ.
Là cánh tay cho người yếu đuối.
Là bạn đồng hành với kẻ cô đơn.
Là ánh lửa hy vọng cho tất cả mọi người.

* Một tờ báo Michigan đăng câu chuyện về một bóng điện cháy sáng suốt 35 năm ở một sân nọ. Một kĩ sư điện ước tính rằng những bóng điện có những sợi tóc bền và điều đó giải thích sự tồn tại lâu dài của chúng. Bài đọc hôm nay nhắc lại một ánh sáng khác đã cháy sáng ngày đêm từ 2000 năm nay. Ánh sáng của ngôi sao Bêlem ám chỉ Chúa Giêsu, Ánh Sáng thế gian.
Ánh sáng ngôi sao Belem có rực sáng trong lòng tôi như cách đây năm năm hay mười năm không?
Lạy Cha, xin cho ánh sao thiêng liêng đó ngày càng rực sáng và lan tỏa khắp thế giới này. (William Cullen Bryant)

* Henry Van Dyke viết câu chuyện về đạo sĩ thứ tư tên là Artaban. Artaban định đi cùng ba người khác để tìm kiếm vị vua mới sinh ra. Ông có một túi ngọc quý để làm quà cho vị vua bé thơ. Trên đường nhập bọn với ba người kia, ông dừng lại để giúp đỡ kẻ túng thiếu, và điều đó cũng đủ để ông không theo kịp ba người kia. Ông tiếp tục giúp đõ người khác và cho đi những viên ngọc quý. Rốt cuộc Artaban trở thành một kẻ ăn xin trong một thành phố xa lạ gọi là Giêrusalem. Một ngày nọ, ông gặp một phạm nhân bị dẫn đi hành hình. Tự nhiên ông cảm thấy gần gũi người này và buồn vì không thể giúp được anh ta. Nhưng khi đến gần, phạm nhân quay về phía Artaban và nói: "Đừng buồn, ông đã giúp đỡ tôi cả đời rồi"
Tôi nghĩ xem Artaban cảm thấy thế nào khi Chúa Giêsu nói với ông ta điều ấy?
Mỗi lần các ngươi giúp đỡ một trong những anh em của Ta, là các ngươi giúp đỡ chính Ta. (x.Mt 25,40)

* Tôn giáo nào có Chúa?
Ngày nọ, Chúa và tôi đến một hội chợ, không phải hội chợ thương mại, mà là Hội chợ Tôn giáo. Nhưng những người tham dự luôn tỏ ra hung bạo và tuyên truyền ầm ĩ.
Tại quầy hàng của người Do thái, chúng tôi nhận được những tờ quảng cáo nói rằng Chúa là Đấng thương xót và dân Do thái là dân được Ngài tuyển chọn. Ngoài những người Do thái, không ai khác được chọn như họ.
Tại quầy hàng của người Hồi giáo, chúng tôi học biết rằng Chúa đầy lòng khoan dung và Mohammed là ngôn sứ duy nhất của Ngài. Sự cứu độ đến nhờ việc nghe ngôn sứ duy nhất của Chúa.
Tại quầy hàng của người Kitô giáo, chúng tôi khám phá ra Chúa là tình yêu và không có sự cứu độ ở ngoài giáo hội. Hoặc gia nhập giáo hội hoặc phải chịu kết án đời đời.
Trên đường trở ra, tôi hỏi Chúa : "Ngài nghĩ gì về những điều nói về Chúa ?"
Chúa nói : "Ta không tổ chức Hội chợ đó. Ta thấy xấu hổ ngay cả khi đến thăm nó".

* Các tôn giáo
Chúa Giêsu nói rằng Ngài chưa bao giờ xem bóng đá. Vì thế, bạn tôi và tôi dẫn Ngài đi xem một trận. Đó là trận đấu gay cấn giữa những người Tin lành và những người Công giáo.
Người Công giáo ghi bàn thắng trước. Chúa Giêsu reo hò và tung mũ lên. Rồi đến người Tin lành ghi bàn thắng, Chúa Giêsu cũng reo hò và tung mũ. Điều này gây khó chịu cho anh thanh niên ngồi sau chúng tôi. Anh vỗ nhẹ lên vai Chúa Giêsu và hỏi : "Này anh bạn tốt, anh ủng hộ bên nào ?"
Lúc này Chúa Giêsu thấy hứng thú vì trận đấu, Ngài trả lời : "Tôi hả ? Ồ, Tôi không đứng về bên nào. Tôi chỉ thưởng thức trận đấu".
Anh quay sang người bạn bên cạnh, nhếch mép cười : "Hừ, kẻ vô thần".
Trên đường trở về, chúng tôi cho Chúa Giêsu biết về tình trạng các tôn giáo trên thế giới ngày nay : "Chúa ạ, thật buồn cười về những người trong các tôn giáo. Dường như họ luôn nghĩ rằng Chúa chỉ đứng về phía họ và chống lại những người khác".
Chúa Giêsu đồng ý : "Đó là lý do tại sao Ta không ủng hộ các tôn giáo. Ta ủng hộ con người. Con người quan trọng hơn tôn giáo. Con người quan trọng hơn ngày Sabát".
Một trong chúng tôi nói với vẻ lo lắng : "Ngài phải thận trọng. Ngài biết, Ngài đã một lần bị đóng đinh vì nói như thế".

* Augustinô là một chàng trai chơi bời trác táng, thế nhưng nhờ lời cầu nguyện và gương sáng của bà mẹ là thánh nữ Monica, cuối cùng Augustinô đã trở lại cùng Chúa và trở nên một vị giám mục thánh thiện và khôn ngoan,
Tiếp đến vợ chồng cũng phải trở nên một thứ ánh sao cho nhau, có nghĩa là vợ chồng phải biết giúp nhau tìm đến cùng Chúa bằng lời nói và việc làm của mình. Tôi xin đưa ra một thí dụ: Người chồng là một tân tòng, nếu không được gương sáng của người vợ thúc đẩy, thì đức tin vừa mới nảy mầm, chẳng bao lâu cũng sẽ bị thui chột.

* Có một ông bố rượu chè cờ bạc, thường bỏ nhà để đàn đúm ăn nhậu với bè bạn. Ngày kia, khi ông trở về thì trời đã khuya, nhìn vào nhà ông thấy vẫn còn ánh đèn, lại có cả những tiếng thì thầm. Tiếng thì thầm ấy chính là tiếng người vợ đang dạy cho đứa con cầu nguyện cho ông. Như được một luồng ánh sáng chiếu soi, ông bừng tỉnh, từ bỏ con đường tội lỗi để trở về cùng Chúa.
Một khi mọi người trong mái ấm thân yêu có được một đời sống gương mẫu, thì chắc chắn gia đình của chúng ta sẽ trở nên như một ánh sao lạ, qua đó người khác sẽ nhận ra sự hiện diện đầy yêu thương của Thiên Chúa.

* HỌ MỞ CÁC KHO TÀNG RA
Một trong những dụ ngôn của Aesop như sau: Một bé gái đang ngồi bên cạnh bức tường, thì đột nhiên, có một con cóc ló ra từ một cái hang. Cô bé này liền trải chiếc khăn quàng lụa của mình ra trước mặt con cóc, đây là loại vải mà con cóc rất thích được bước lên đó. Ngay khi vừa nhìn thấy chiếc khăn quàng, con cóc liền quay trở vào hang, và trở ra ngay, mang theo một vương miện nhỏ bằng vàng đính trên chiếc khăn quàng, rồi lại quay trở về hang.

Ngay tức khắc, cô bé liền cầm lấy cái vương miện, và bỏ vào túi. Ít lâu sau, con cóc lại trở ra, nhưng khi không nhìn thấy vương miện trên chiếc khăn quàng, thì con cóc liền bò lên bức tường, nó cứ đập cái đầu nhỏ xíu của nó vào bức tường một cách đầy đau khổ, cho đến cuối cùng nó bị vỡ đầu và chết. Nếu cô bé cứ để cái vương miện ở nguyên tại chỗ, thì chắc chắn con cóc sẽ còn mang thêm những kho tàng của nó ra khỏi hang nữa.

Mục đích của câu chuyện ngắn này cho thấy rằng mỗi người đều có một kho tàng để chia sẻ. Vấn đề là: Làm thế nào để chia sẻ kho tàng đó ra

*  Nhận biết Thiên Chúa
Đức Giáo hoàng Piô X là một người có cách xử thế rất bình dân. Làm đến Hồng Y mà ngài vẫn sẵn sàng trước công việc của một cha xứ tầm thường. Ngài luôn thân tình và gần gũi với mọi người.
Một hôm ngài định đến một nhà Nữ tử Bác ái ở Cristano thì biết là người ta sẽ có một cuộc đón rước long trọng tại nhà ga Baxano, ngài liền viết cho một cha bạn như sau: "Có hai linh mục từ Venesia đi Cristano, xin cha làm ơn cho một cỗ xe ngựa đến đón họ tại nhà ga xe lửa." Khi xe lửa đến nơi, ĐHY cùng với linh mục phụ tá tiến về chiếc xe ngựa xiêu vẹo đang đứng chờ. Vị linh mục bạn giật mình nhận ra ĐHY, lắp bắp nói không nên lời. ĐHY ra hiệu cho cha đừng nói gì và lên xe cùng đi với ngài.
Nếu sự nhận biết một vị Hồng Y có thể làm thay đổi cách đón tiếp, thì sự nhận biết Thiên Chúa có thể làm thay đổi cả cuộc sống. Nhận biết Thiên Chúa là điểm cốt yếu của ơn cứu độ, là nền tảng cho mọi tính toán về hạnh phúc đời đời.
Thế nhưng chẳng ai dám nói là mình hiểu biết Thiên Chúa khi mà thánh Tôma Aquinô, nguyên súy của các nhà thần học, cũng phải thú nhận trong "Questio Disputata de Potentia Dei" rằng "Tận cùng của kiến thức con người, đó là biết rằng mình không biết Thiên Chúa."
Nhận biết Thiên Chúa là một vấn đề hết sức quan trọng, nhưng tự sức mình, chúng ta bất lực trong việc nhận biết Thiên Chúa.
Một chú bé cùng với người cha đi trên con đường mòn trong đêm tối tăm mù mịt, trên tay chỉ có một cây đèn nhỏ. Bóng đêm làm cho chú bé thấy sợ hãi. Chú nói với cha mình:
-      Ba ơi, chiếc đèn chỉ rọi sáng một khúc đường ngắn, con sợ quá!
-      Này con, ánh sáng dù có yếu, nhưng nó sẽ dẫn con đến nơi.
Vâng, vấn đề cốt yếu không phải đèn sáng nhiều hay ít mà tôi có đi theo sự soi dẫn của ánh sáng hay không. Các thượng tế, kinh sư có Lời Chúa ngay bên đã không nhận biết Ngôi Hai giáng trần, vì họ không muốn bước theo ánh sáng.
"Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người. Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người. Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận." (Ga 1,9-11)
Lạy Chúa, xin mở rộng tâm hồn con để khao khát tìm kiếm ánh sáng của Chúa!
Lần nọ, một hướng dẫn viên của nguyện đường Sixtine dẫn khách du lịch thưởng lãm một vài kiệt tác của Michelangelo, một phụ nữ người Mỹ có vẻ tự mãn và thạo đời đã càu nhàu: "Ôi dào! Tôi không thích chúng. Đúng là tôi không thích chúng – chúng không hề gợi cảm một chút nào đối với tôi!" còn người hướng dẫn thì vừa kiên nhẫn, vừa khéo léo: "Thưa bà, cả bà và tôi đều không thể đánh giá những kiệt tác này, đúng hơn, chính chúng đánh giá chúng ta."

Cũng thế, tại sao ánh sáng của ngôi sao làm cho các đạo sĩ "vui mừng quá đỗi" mà lại làm cho vua Hêrôđê và cả Giêru-salem cùng với nhà vua thành bối rối? Vì Đấng Cứu thế là ánh sáng đem lại niềm vui cho người ngay chính, và sự sợ hãi cho những ai thích sống trong bóng tối.
Một bản tin đầu năm 2008 của Vietcatholic cho biết, theo báo cáo của Google Zeitgeist's, trong năm 2007 số người truy cập trang Google để tìm câu giải đáp cho vấn nạn 'Thượng Đế là ai?' (Who is God?) được xếp hàng đầu trong những câu hỏi tìm biết về một nhân vật nào đó.
Có lạ không khi người ta vẫn hỏi 'Thiên Chúa là ai' trong một thời đại có không ít người đồng hoá niềm tin với mê tín, lạc hậu?
Thế nhưng, người ta phải tìm Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là một vấn nạn không thể thiếu vắng trên con đường đi tìm chính mình. Câu hỏi 'Thượng Đế là ai' cũng là mặt trái của câu hỏi 'Tôi là ai', vì ý niệm Thiên Chúa bao hàm một ý nghĩa, một giá trị cho cuộc sống con người mà ai cũng phải trả lời cho cuộc làm người.

Tình yêu vợ chồng chung thủy là điều rất đẹp lòng Chúa!
Chúa nhật 9-10-1994, tại quảng trường thánh Phêrô, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II (1978-2005) cử hành Thánh Lễ cho hơn 150 ngàn người thuộc các gia đình từ 103 nước trên thế giới tụ tập về thủ đô Roma, nhân dịp Năm Quốc Tế Gia Đình. Tối thứ bảy trước đó, 8-10, trước sự hiện diện của Đức Thánh Cha, một số cặp vợ chồng nói lên chứng từ tình yêu trong đời sống hôn nhân. Sau đây là chứng tá chung thủy của ông bà Robert và Priscilla Onyealusi.

Ông Robert nói:
"Kính thưa Đức Thánh Cha, Priscilla và con, chúng con đến từ Nigéria. Như Đức Thánh Cha biết, nền văn hóa của chúng con rất tôn trọng và quý chuộng sự sống. Chúng con xem sự sống là hồng ân cao trọng THIÊN CHÚA ban tặng loài người. Do đó, khi lập gia đình, chúng con mong ước sẽ lần lượt cho ra chào đời một đàn con lúc nhúc! Gia đình đông con được chúc phúc và hạnh phúc nhất trần gian!
Thế nhưng, sau khi hai chúng con lấy nhau rồi, năm tháng cứ trôi qua mà không một bóng con nào được chào đời! Những bô lão trong làng bắt đầu lo lắng. Các vị khuyên chúng con phải tìm thầy chạy thuốc, hầu có con nối dõi tông đường! Nhiều vị còn khuyên con nên cưới thêm người vợ thứ hai.

Riêng con, con cảm thấy không thể nào rút lại lời đã long trọng thề hứa cùng Priscilla ngày hai chúng con lãnh Bí Tích Hôn Phối nơi nhà thờ:
- Anh hứa yêu em và trung tín với em, trong lúc thịnh đạt cũng như khi gặp cảnh gian nan!
Thêm vào đó, con ý thức sâu xa rằng: - Tín hữu Công Giáo tin tưởng sâu xa nơi Tình Yêu THIÊN CHÚA. Vì thế, nếu chúng con biết chấp nhận đau khổ không có con cái như là thử thách đến từ THIÊN CHÚA thì chúng con sẽ biến thử thách thành tình yêu, một tình yêu rộng lớn quảng đại mà hai chúng con trao cho nhau và trao cho người khác."
Bà Priscilla nói:
"Tình yêu của Robert nâng đỡ con rất nhiều. Con hoàn toàn tin tưởng nơi lòng trung tín của chàng. Chàng không bao giờ làm cho con có mặc cảm thua kém các phụ nữ khác - chỉ vì mình son sẻ - nhất là trong xã hội Phi Châu vốn xem phụ nữ không con là kẻ vô dụng!
Cả hai chúng con tìm được sức mạnh và ánh sáng trong đời sống theo Phúc Âm của Đức Chúa GIÊSU KITÔ. Chúng con quyết định nhận làm con đứa cháu 3 tuổi, bị mất mẹ. Một thời gian ngắn sau đó, chúng con nhận về nuôi một đứa bé mồ côi 2 tuổi. Chúng con nhớ lời Chúa dạy: - Việc gì các con làm cho một trong những kẻ bé mọn nhất của anh em Thầy, là các con làm cho chính Thầy.
Chúng con tiếp nhận hai đứa trẻ như tiếp nhận chính Đức Chúa GIÊSU và hết lòng yêu thương để bù đắp phần nào nỗi đau thương mất mẹ của chúng.

Dần dần, những gia đình Công Giáo khác trong làng theo gương chúng con. Gia đình Sam và Cécilia - mặc dầu nghèo và có đến 7 đứa con - cũng sẵn sàng nhận nuôi thêm 2 trẻ khác, thuộc một gia đình quá đông con và quá nghèo.
Sau 7 năm thành hôn, tưởng chừng như sẽ không bao giờ có con, thì bất ngờ con mang thai và sinh một bé trai. Chúng con đặt tên Samuel Nwachukwu, trong thổ ngữ chúng con có nghĩa là đứa con của Chúa. Một năm rưỡi sau, chúng con có thêm đứa con thứ hai. Lần này là một bé gái. Chúng con đặt tên Ogechukwu có nghĩa là thời giờ của Chúa tốt đẹp nhất."

Ông Robert nói:
"Việc mở rộng lòng đón nhận sự sống cũng là tâm tình chúng con đáp lại Tình Yêu THIÊN CHÚA, trong ý thức sâu xa về trách nhiệm của bậc làm cha làm mẹ. Chúng con cũng sống bậc vợ chồng một cách quảng đại hơn, trong sự tôn trọng, yêu thương và trung tín với người bạn đường của mình."
("Incontro del Santo Padre con le Famiglie" 8-10-1994)